04. MẪN TỔN (NHỊ THẬP TỨ HIẾU)

Tích Nhị Thập Tứ Hiếu là hai mươi bốn câu chuyện về các nhân vật lịch sử được Nho học xem là tấm gương đức độ về cách đối đãi với cha mẹ, đấng sinh thành và đấng nuôi dưỡng. Lấy Hiếu làm gốc để đạt chữ Nhân, có được chữ Nhân ắt đạt được chữ Phúc – là hạnh phúc, phúc đức ở đời.

Đông Á Danh Hoạ xin được tổng hợp các câu chuyện, nhân vật theo hướng lịch sử, đồng thời trích dẫn thơ của danh thần nổi tiếng triều Nguyễn, ông Lý Văn Phức (1785-1849).

Nhân vật thứ tư trong bộ truyện là Mẫn Tổn (闵损): hiếu với mẹ kế

Tổng quan

Mẫn Tổn (536 – 487 trước Công nguyên), tự Tử Khiên, còn gọi là Mẫn Tử Khiên.

Ông là một trong 72 môn đồ do Khổng Tử trực tiếp truyền dạy. Theo luận ngữ, ông được xếp vào Khổng Môn Thập triết (孔門十哲), tức 10 triết gia lỗi lạc nhất của Nho Giáo. (“闵子”, baidu)

Tử Khiên nổi bật về tu dưỡng đức hạnh. Lời bộc bạch với Đoan Mộc Tứ (cùng trong Thập triết) cho thấy: Ông là người luôn tự chất vấn, suy xét và chiêm nghiệm bản thân. Từ đó phân định đâu là cám dỗ, đâu là lẽ phải để theo mà đạt được chân tu. Khi đã đạt chân tu, tất đạt được sự thanh tịnh, viên mãn. (“Min Sun”, wikipedia)

Tử Khiên là bậc đại hiếu. Ông không ưa quyền thế xa hoa, mà ưa đạo hạnh ẩn dật. Dáng điệu thư thái, ngôn từ đoan chính.

Tiểu Sử

Mẫn Tổn là người cùng quê với Khổng Tử , sinh ra lớn lên ở nước Lỗ (nay thuộc tỉnh Sơn ĐôngTrung Hoa). Ông sống vào cuối thời Xuân Thu. Theo sử Tư Mã Thiên , ông nhỏ hơn Khổng Tử mười lăm tuổi. Khổng Tử Gia Ngự lại chép ông nhỏ hơn năm mươi tuổi. 

Tổ tiên của ông là Lỗ Mẫn Công, vị vua thứ 18 của nước Lỗ, chư hầu nhà Chu (1122-249 trước Công Nguyên). Tuy vậy, đến đời cha ông thì gia cảnh vô cùng khó khăn. Mẹ mất sớm. Ông phải làm lụng vất vả từ nhỏ để mưu sinh.

Đương thời, Tam Hoàn, tức ba dòng họ tôn thất từ thời vua Lỗ Trang Công là Quý, Mạnh, Thúc nắm quyền hành chính ở nước Lỗ. Nhiều đời tranh giành vị thế, lấn át vua, làm loạn chính sự. Vua nước Lỗ bấy giờ là Lỗ Chiêu Công cũng do Quý Bình Tử họ Quý bức ép phải tha hương, mất cũng không được hồi cố quốc.

Mỗi họ trong Tam Hoàn hùng cứ một vùng gọi là ấp. Ấp Phí là đất cai quản riêng của họ Quý. Khi Khổng Tử cùng Lỗ Chiêu Công lánh nạn ở nước Tề, họ Quý nghe danh Mẫn Tổn, có mời ông ra làm quan Tể ấp ở đất Phí. Đây là chức quan cao nhất, chịu trách nhiệm điều hành cả khu vực.

Ông trong lòng bất mãn nên khẳng khái từ chối: ta không nhận chức, nếu ép buộc, ta sẽ chạy sang nước Tề với thầy ta.

Tuy nhiên, theo 趣历史(2016), sau đó Khổng Tử lại thư về thuyết phục ông ra làm quan giúp dân. Ông miễn cưỡng nghe theo. Tương truyền, dù không phục họ Quý nhưng Mẫn Tổn vẫn tận tuỵ trách nhiệm. Đất Phí dưới sự quản lý của ông có nhiều thay đổi rõ rệt. Được hơn một năm, ông lại xin từ chức.

Sau ông tiếp tục theo Khổng Tử đi đến hơn 20 nước lớn nhỏ khác nhau, phổ biến về “nhân nghĩa” và “đạo đức”.

Khi Khổng Tử mất, Tử Khiên cùng Phàn Tử Trí, Mật Bất Tề (cùng là học trò của Khổng Tử) lánh về Thái Mẫn Thôn ẩn cư dạy học. Nay vùng này nằm ở huyện Ngư Đài, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc.

Mẫn Tử Khiên mất lúc 50 tuổi.

Câu chuyện hiếu thảo 

Chuyện hiếu thảo của Mẫn Tổn được kể khi ông còn là một cậu bé, chưa theo học Khổng Tử. Thuở ấy, ông sống cùng cha và mẹ kế. Mẹ kế dị lòng, thương con ruột mà bạc đãi ông. Mùa đông lạnh giá, bà may áo ấm chần bông cho con mình, nhưng chỉ chần rơm cỏ cho Mẫn Tổn.

Mẫn Tổn thường xuyên phải theo cha kéo xe chở hàng. Áo không đủ ấm, cậu bé run tay làm xe đổ nhào. Đồ đạc trên xe trượt hết xuống đường. Người cha thấy vậy vô cùng tức giận. Ông nóng nảy đánh mắng con vô dụng, mặc áo dày vẫn không đủ ấm. Không ngờ chiếc áo rách lộ ra rơm cỏ bên trong.

Cha Mẫn Tổn thấy được lòng vừa áy náy, vừa thương con bị đòn oan, vừa hận mẹ kế gây ra nông nỗi này. Ông lập tức về nhà đòi bỏ vợ.

Mẫn Tổn chạy theo, quỳ khóc khuyên can cha:”Mẹ ở đây vả chăng chỉ mình con chịu lạnh. Mẹ đi rồi thì luôn cả hai em con cũng chịu lạnh theo”.

Lời cậu bé khiến người lớn xúc động. Cha ông đổi ý không từ vợ nữa. Mẹ kế cũng vì vậy mà thương quý ông. Về sau bà đối đãi công bằng với các con. Cả nhà êm ấm thuận hoà.

Phần thơ song thất lục bát của Lý Văn Phức


Thầy Mẫn Tử rất đường hiếu nghĩa,

Xót nhà huyên quạnh quẽ đã lâu.

Thờ cha sớm viếng, khuya hầu,

Chẳng may gặp phải mẹ sau nồng nàn.






Trời đương tiết đông hàn lạnh lẽo,

Hai em thời kép áo, dày bông,

Chẳng thương chút phận long đong,

Hoa lau nỡ để lạnh lùng một thân.






Khi cha dạo, theo chân xe đẩy,

Rét căm căm nên xẩy rời tay,

Cha nhìn ngẫm nghĩ mới hay,

Nghiến răng rắp cắt đứt dây xướng tuỳ.






Gạt nước mắt, chân quỳ, miệng gửi:

Lạy cha, xin xét lại nguồn cơn,

Mẹ còn, chịu một thân đơn,

Mẹ đi, luông để cơ hàn cả ba.






Cha trông xuống cũng sa giọt tủi.

Mẹ nghe lời cũng đổi lòng xưa,

Cho hay hiếu cảm nên từ,

Thấm lâu như đá cũng rừ lọ ai ?

Mời quý vị xem thêm về các nhân vật khác tại tích Nhị Thập Tứ Hiếu

Danh sách tham chiếu:

  • “闵损”, wikipedia, tham khảo 06/07/2021, <https://zh.wikipedia.org/wiki/%E9%97%B5%E6%8D%9F>
  • “Min Sun”, wikipedia, tham khảo 06/07/2021,<https://en.wikipedia.org/wiki/Min_Sun>
  • “闵子”, baidu, tham khảo 06/07/2021,<https://baike.baidu.com/item/%E9%97%B5%E5%AD%90/4520882?fromtitle=%E9%97%B5%E6%8D%9F&fromid=4375609>
  • “闵子骞是否做过费宰 闵子骞的故事有哪些”, 2016, 趣历史, tham khảo 06/07/2021,<http://www.qulishi.com/news/201610/131434.html>
  • “古代费宰是什么官职”, 2017, Baidu, tham khảo 06/07/2021,<https://zhidao.baidu.com/question/1451830356559021740.html>
  • “Mẫn Tử Khiêm”, 2021, Thi Viện, tham khảo 06/07/2021,<https://www.thivien.net/L%C3%BD-V%C4%83n-Ph%E1%BB%A9c/M%E1%BA%ABn-T%E1%BB%AD-Khi%C3%AAm/poem-UeyTpnz7eT53VylGCk1ZYQ>

Share:

Share on facebook
Facebook
Share on twitter
Twitter
Share on pinterest
Pinterest
Share on linkedin
LinkedIn

Mạng xã hội

Bộ sưu tập tranh

Nhận cập nhật

Đăng ký nhận tin mới từ Đông Á Danh Họa

Không spam, chỉ có cập nhật hoạt động và các sản phẩm mới.

Các chuyên mục thư viện đọc
Đọc thêm

Các bài liên quan

Nghê Toản (倪瓚)

Giới thiệu chung  Tác gia:  Nghê Toản (1301-1374) Tự: Nguyên Trấn (元镇), Huyền Anh (玄瑛) Hiệu: Vân Lâm (云林), Huyễn Hà Sinh (幻霞生), Tiêu Nhàn

Đọc tiếp »

Ngô Trấn (吴镇)

Giới thiệu chung  Tác gia:  Ngô Trấn (1280-1354) Tự: Trọng Khuê (仲圭) Hiệu: Mai Hoa Đạo Nhân (梅花道人), Mai Sá Di (梅沙弥) Nguyên quán: Gia

Đọc tiếp »
preloader